Giới thiệu cùng mục
Quy định về duyệt cấp phát một số thuốc tại BVĐK tỉnh Thanh Hóa Thông tin liên quan đến tính an toàn của thuốc tiêm methylprednisolon chứa thành phần tá dược lactose Hướng dẫn thống nhất thông tin chỉ định đối với thuốc chứa Alpha Chymotrypsin dùng đường uống, ngậm dưới lưỡi Hướng dẫn thực hiện chuyển kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống Nguy cơ tổn thương đa dạng lupus ban đỏ bán cấp liên quan đến các thuốc ức chế bơm Proton Một số nội dung chính của hoạt động dược lâm sàng Thông tin về thuốc Tavanic và Invanz Thông tin thuốc: Khuyến cáo đặc biệt với kháng sinh Cefotaxim Độc tính trên mắt của các loại thuốc đường dùng toàn thân Phản ứng có hại nghiêm trọng của một số loại thuốc Thông tin thuốc: Cập nhật thông tin hướng dẫn sử dụng đối với thuốc chứa Citicolin dùng đường tiêm THÔNG TIN HƯỚNG DẪN CÁC DẠNG THUỐC VIÊN KHÔNG ĐƯỢC NHAI, NGHIỀN, BẺ. Cập nhật lại thông tin về chế phẩm chứa Calcitonin THẬN TRỌNG KHI LỰA CHỌN SỬ DỤNG COLISTIN Về việc cập nhật thông tin thuốc Cefmetazol đường tiêm tĩnh mạch, truyền tĩnh mạch THÔNG TIN VỀ LIỀU DÙNG CEFTRIAXONE PPIS& KHÁNG H2 Danh mục thuốc nhìn giống nhau, đọc giống nhau (LASA - Look alike, sound alike)

Giới thiệu

Khoa - Phòng chức năng

Dịch vụ y tế

Khám chữa bệnh

Văn bản quy phạm

Tài liệu chuyên môn

Thuốc hỗ trợ chức năng gan và những lưu ý khi sử dụng

Hiện nay, các loại thuốc được gắn mác “bổ” gan, hỗ trợ điều trị các bệnh về gan, cải thiện chức năng gan có rất nhiều với hàng trăm loại tên thương mại khác nhau, chủ yếu “núp” dưới “vỏ” thực phẩm chức năng dùng cho các đối tượng hay sử dụng rượu bia, chức năng gan kém, dùng thuốc dài ngày hoặc rối loạn chức năng gan (mệt mỏi, chán ăn...).

Các thuốc này thường có thành phần là thảo dược. Một số thảo dược lợi thấp thanh nhiệt và nhuận gan giải độc của Đông y có hàm lượng cao những chất chống oxy hóa có thể đáp ứng trong việc điều trị viêm gan virus do tác dụng làm giảm quá trình peroxide hóa lipid ở gan và tăng cường chức năng gan. Tuy nhiên, khi dùng thuốc cần lưu ý phần lớn các loại thuốc nhuận gan giải độc đều có tính bình hoặc hàn nên dễ phát sinh đầy bụng, đi ngoài lỏng, phân nát. Vì vậy, người tiêu dùng không nên quá tin tưởng vào các tác dụng “thần diệu” của các loại thuốc “bổ” gan này mà lạm dụng dẫn đếnảnh hưởng có hạiđến sức khỏe.

Tại các nhà thuốc có khá nhiều loại thuốc được người bán giới thiệu là thuốc “hỗ trợ điều trị gan”, “bảo vệ gan”. Ngoài một số thuốc có nguồn gốc dược liệu nhuận gan giải độc như actiso, diệp hạ châu, trân châu thảo... có tác dụngtốtđể hỗ trợ giảiđộc gan, tăng cường chức năng gan và mát gan; thì cũng có khá nhiều thuốc có hoạt chất hóa học như L-ornithine-L-aspartate, silymarine, methionin, biphenyl dimethyl dicarboxylat (BDD) cần có chỉđịnh của bác sĩ hoặc hướng dẫn của dược sĩđểđược sử dụng hợp lý, an toàn và hiệu quả.

Các hoạt chất hay gặp của thuốc với mục đích hỗ trợ điều trị bệnh gan 

Thuốc có hoạt chất LOLA (L-ornithine-L-aspartate):LOLA là dạng muối bền của 2 amino acid omithin và aspartic acid, được chỉ định trong các bệnh gan cấp và mạn tính, như xơ gan, gan nhiễm mỡ, viêm gan, kết hợp với tăng amoniac máu, đặc biệt là trong các biến chứng về thần kinh (bệnh não gan). LOLA kích thích tổng hợp vòng ure và glutamin, đóng vai trò quan trọng trong cơ chế giải độc amoniac. Hiện vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống nhất về tác dụng hạ amoniac máu của LOLA. Tại Việt Nam, khoảng 100 thuốc có hoạt chất LOLA đang được lưu hành trên thị trường với các chế phẩm ở dạng đường tiêm (dung dịch tiêm, dịch truyền, dung dịch đậm đặc để pha tiêm truyền) và đường uống (viên nang, viên nén, siro,...). Thuốc này cũng hay được sử dụng như là một thuốc “bổ gan” trong nhiều phác đồ điều trị. Tuy nhiên, nó cũng chỉ là một chất hỗ trợ có tác dụng giải độc cho gan và phải dùng đúng liều lượng để tránh bị những tai biến đáng tiếc do lạm dụng quá mức. 

Biphenyl dimethyl dicarboxylate (BDD):BDDlà chất có nguồn gốc từ cây thảo dược Schisandra chinensis. BDD là một dẫn chất trung gian tổng hợp của schizandrin C có trong cây. BDD được sử dụng phổ biến như một thuốc bổ gan trong điều trị viêm gan virus mạn tính và các bệnh gan khác tại Trung Quốc và vài quốc gia châu Á khác. BDD có hiệu quả đưa Alanine aminotranferase (ALT) trở về bình thường nhưng lại hiếm khi ảnh hưởng đến các enzym gan khác. Thêm vào đó, trong đa số trường hợp, ALT trở về bình thường trong thời gian điều trị BDD, nhưng lại tăng trở lại khi ngưng BDD. Vì vậy, vẫn còn tranh cãi, liệu rằng BDD có mang lại lợi ích đối với mô gan. BDD cũng đã từng được các bác sĩ lựa chọn trong việc điều trị viêm gan do thuốc (thuốc trị ung thư, thuốc kháng sinh và kháng lao...). BDD còn làm giảm các triệu chứng của bệnh nhân như đau gan, mệt và cảm giác trướng bụng... Tuy nhiên, qua thử nghiệm lâm sàng của nhiều nghiên cứu cho thấy kết quả giữa nhóm có dùng thuốc BDD và nhóm không dùng thuốc không khác nhau rõ ràng. Các xét nghiệm sinh hóa sau khi dừng thuốc cho thấy BDD không giải quyết tận gốc của vấn đề nên thuốc đã bị đình chỉ lưu hành.Mặc dù đã đình chỉ lưu hành nhưng các thuốc có BDD vẫn còn trên thị trường và có lúc lại trở thành hàng hiếm. Đây là điều mà cả người bệnh và nhân viên y tế cần cập nhật thông tin về các thuốc để tránh dùng phải những thuốc đã bị đình chỉ lưu hành.

Silymarin:Silymarin là hoạt chất chiết từ hạt hoặc từ quả cây Kế sữa (Silybum marianum). Silymarin là một hỗn hợp của 3 flavonoid gồm silydianin, silychristine và silybin. Silymarin có tác dụng ổn định màng tế bào gan và ngăn chặn chất độc từ ngoài nhiễm vào trong tế bào gan. Silymarin cũng ức chế sự biến đổi gan thành tổ chức xơ, giảm sự hình thành các sợi collagen dẫn đến xơ gan. 

Cần dùng thuốc hỗ trợ chúc năng gan như nào cho hợp lí?

-       Các thuốc này không chữa nguyên nhân gây ra viêm gan, mà chỉ hỗ trợ phục hồi tổn thương, làm tăng cường chức năng gan (Giảm tổn thương vi thể, đưa enzym gan trở về mức cốđịnh). Ví dụ: với tổn thương gan do virút viêm gan B phải dùng thuốc ức chế sinh sản virút như lavimidin, adefovir, interferon. Với tổn thương gan do hóa chất phải ngừng tiếp xúc với hóa chất và dùng các thuốc giải độc đặc hiệu. Ví dụ ngộ độc phosphor hữu cơ phải dùng PAM, ngộ độc chì phải dùng EDTA. Ngay các thuốc livsin-94VN, oraliver có một phần nào làm hạn chế sự sinh sản virút cũng không có thể thay thế các thuốc chữa nguyên nhân gây tổn thương gan như nói trên.

-       Thuốc phải dùng vào thờiđiểm thích hợp. Tốt nhất là dùng thuốc hỗ trợ chức năng gan sau khi dùng thuốc chữa nguyên nhân, đưa bệnh về trạng tháiổnđịnh. Khi enzym gan tăng bất thường mới dùng thuốc hỗ trợ chức năng gan. Khi enzym gan trở lại mức cốđịnh phải dừng thuốc.

-       Đa số cácthuốc khi vào cơ thể cũng cần gan phải chuyển hóa. Khi bệnh gan tiến triển hay xơ gan thì không nên dùng thuốc hỗ trợ chức năng gan vì như thếsẽ làm gan thêm nặng gánh, có thể sẽ làm cho tổn thương gan nặng thêm, có thể làm bệnh não gan tiến triển, giảm chức năng chuyển hóaở gan, giảm chu trình acid forlic gan ruột....

-       Một số thuốc hỗ trợ gan nói trên cũng có tác dụng phụ ví dụ như methionin có thể gây buồn nôn, ngủ gật, nhiễm toan tăng nitơ máu ở người suy chức năng gan thận, vì vậy không được dùng cho người nhiễm toan suy gan nặng. Phải dùng theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc không nên xem chúng là thuốc “bổ gan” và dùng tùy tiện.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Cục Quản lý Dược. Danh mục các thuốc được cấp số đăng ký từ tháng 1/2010 đến tháng 4/2015.
  2. Abdel-Salam, OM, Sleem, AA, Morsy, FA (2007) Effects of biphenyldimethyl-dicarboxylate administration alone or combined with silymarin in the CCL4 model of liver fibrosis in rats. The Scientific World Journal 7: 1242–1255.
  3. Full Prescribing Information of HEPA-MERZ (L-ornithine L-aspartate). http://www.mims.com/Philippines/drug/info/Hepa-Merz/?type=full#Indications.
  4. G.Kircheis, et al. Clinical Efficacy of L-ornithine-L-aspartat in the Management of Hepatic Encephalopathy. Metab Brain Dis 2002;17:453-62.
  5. Huber R, Hockenjos B, Blum HE. DDB treatment of patients with chronic hepatitis. Hepatology 2004;39:1732-1733.
  6. Lee MH1, Kim YM, Kim SG. Efficacy and tolerability of diphenyl-dimethyl-dicarboxylate plus garlic oil in patients with chronic hepatitis. Int J Clin Pharmacol Ther. 2012 Nov;50(11):778-86.
  7. Lynn Dianne Philips. Manual of IV therapeutics, 3rd Edition; 383.
  8. Raymond C Rowe, Paul J Sheskey, Marian E Quinn. Handbook on Pharmaceutical excipients, 6th Edition 2009; 577-79.
  9. Shahab Abid, et al. Efficacy of L-ornithine-L-aspartate as an Adjuvant Therapy in Cirrhotic Patients with Hepatic Encephalopathy. Journal of the College of Physicians and Surgeons Pakistan 2011;21(11):666-71.

10. Wang, C.; Xu, Y.Q. Diphenyl Dimethyl Bicarboxylate in the Treatment of Viral Hepatitis, Adjuvant or Curative? Gastroenterol. Res. 2008, 1, 2–7.

11. World Allergy Organization Guidelines for the Assessment and Management of Anaphylaxis. WAO Journal 2011;4:13–37.