Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa

  

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa được thành lập từ năm 1899, đến nay đã là Bệnh viện hạng I, có quy mô 1.200 giường bệnh, với 1.226 cán bộ viên chức, người lao động. Trong đó có 263 Bác sĩ có trình độ đại học và trên đại học (Tiến sĩ 04; BSCKII 29; CKI 55; Thạc sĩ 62; Bác sĩ đa khoa 113) được phân bố ở 44 Khoa, Phòng, bộ phận và 02 Trung tâm. Bệnh viện có cơ sở hạ tầng khá khang trang, nhiều trang thiết bị y tế hiện đại và một khối lượng lớn các dịch vụ kỹ thuật y tế có chất lượng cao; nhiều thế hệ các thầy thuốc, cán bộ khoa học có uy tín trải qua hoạt động thực tiễn, không ngừng học tập, nghiên cứu khoa học, đã từng bước trưởng thành, đạt được trình độ học vấn cao và đã được nhà nước phong tặng các danh hiệu cao quý khi công tác tại Bệnh viện.

 

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA BỆNH VIỆN
 
 




 

Trong những năm qua, Bệnh viện luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, với nhiều thành công trong công tác ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật y học trong khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân, từng bước khẳng định chất lượng, uy tín, thương hiệu và vị thế của Bệnh viện hạng I lớn nhất tỉnh. Về lĩnh vực ngoại khoa, đã có nhiều kỹ thuật được thực hiện thường quy tương đương với tuyến trung ương như: Ghép thận từ người cho sống và người cho chết não, phẫu thuật nội soi ổ bụng; Phẫu thuật nội soi cắt u xơ tiền liệt tuyến, u bàng quang, cắt nang thận, nội soi sau phúc mạc lấy sỏi niệu quản và gần đây hàng chục bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt thận, cắt thận bán phần nội soi, tạo hình bàng quang bằng quai ruột thành công; rất nhiều ca bệnh sỏi thận, niệu quản được điều trị với kết quả tốt bằng tán sỏi ngoài cơ thể định vị siêu âm và X-quang; tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng bằng laser, tán sỏi thận nội soi qua da bằng đường hầm nhỏ (Mini - PCNL) sử dụng Laser cường độ cao 100W; Phẫu thuật nội soi lồng ngực; Phẫu thuật sọ não, hộp sọ; phẫu thuật cột sống; hàng nghìn bệnh nhân phẫu thuật kết xương phức tạp và hàng nghìn bệnh nhân đã được thay chỏm xương đùi, thay khớp háng toàn phần/bán phần, thay khớp gối đạt kết quả tốt và an toàn; gần đây phẫu thuật nội soi khớp gối, tái tạo dây chằng tổn thương do chấn thương cũng đã thực hiện thành công. Những kỹ thuật phức tạp như phẫu thuật cắt khối tá tụy, cắt dạ dày toàn bộ, cắt u dạ dày nội soi, cắt u thực quản 1/3 dưới, phẫu thuật cắt đại tràng nội soi, cắt tuyến giáp nội soi, phẫu thuật trĩ Longo, phẫu thuật Phaco mắt, phẫu thuật nội soi Tai mũi họng, cấy ghép Implant là những kỹ thuật đã được hoàn thiện. Giữa năm 2014, những ca phẫu thuật đầu tiên cho bệnh nhân có khối u trung thất, u phổi, u màng ngoài tim đã được thực hiện thành công, an toàn, có lợi ích lớn trong cải thiện chất lượng cuộc sống, mang đến niềm vui, hạnh phúc cho người bệnh, gia đình và xã hội; thực hiện thường quy phẫu thuật thay van tim nhân tạo, phẫu thuật nội soi một số bệnh tim bẩm sinh, phẫu thuật thay đoạn động mạch chủ...

 

Về lĩnh vực nội khoa và can thiệp cũng không ngừng phát triển, các kỹ thuật và tiến bộ mới trong điều trị và can thiệp đã làm cho khoảng cách giữa nội khoa và ngoại khoa ngày càng xích lại gần hơn, nhiều bệnh lý nếu như trước đây chỉ có thể điều trị bằng ngoại khoa thì nay phần lớn có thể chỉ cần điều trị nội khoa và can thiệp như các bệnh lý viêm loét ống tiêu hóa; khối u tử cung, khối u gan, giãn tĩnh mạch thực quản, bệnh tim bẩm sinh, đột quỵ nhồi máu não…, có thể điều trị bằng can thiệp nút mạch, thắt tĩnh mạch thực quản qua nội soi, bít dù các lỗ thông tim bằng can thiệp tim mạch, tiêu sợi huyết, can thiệp mạch não lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học Solitaire, điều trị túi phình mạch não bằng phương pháp đặt coil nội mạch; đơn vị tim mạch can thiệp đã thực hiện hàng trăm ca chụp và can thiệp đặt stent động mạch vành mỗi năm, triển khai thành công kỹ thuật thăm dò điện sinh lý tim và điều trị rối loạn nhịp tim bằng sóng cao tần RF, nhờ đó, nhiều ca bệnh đã được cứu sống một cách kỳ diệu, không cần phải chuyển tuyến trên. Gần đây Bệnh viện đã đưa vào hoạt động thiết bị điều trị khối u bằng sóng siêu âm cao tần (HIFU), điều trị khối u phổi bằng đốt sóng cao tần RFA, bước đầu đạt hiệu quả, mở ra triển vọng mới trong điều trị cho một số bệnh nhân mắc ung thư gan, tụy, tiền liệt tuyến và tuyến vú…; các kỹ thuật khác như sinh thiết mù màng phổi; sử dụng huyết tương giầu tiểu cầu điều trị bệnh thoái hóa khớp gối; điện quang can thiệp điều trị u gan bằng RF, điều trị ho máu…. Bên cạnh đó là những kỹ thuật chuyên khoa sâu như thận nhân tạo chu kỳ, lọc máu liên tục, siêu thẩm tách HDF-online, lọc máu phụ, xạ trị gia tốc điều trị ung thư, đặt máy tạo nhịp tạm thời, vĩnh viễn, sốc điện cấp cứu ngừng tuần hoàn, bơm xi măng cột sống điều trị bệnh lý cột sống, hồi sức tích cực, hồi sức và cấp cứu tim mạch, chăm sóc tăng cư­­­­­­ờng, thở máy và thở máy dài ngày, các kỹ năng về cấp cứu và điều trị nội ngoại khoa, kỹ thuật gây mê, các thủ thuật lâm sàng, triển khai các dịch vụ giảm đau theo mô hình Nhật Bản....cũng đã trở nên thuần thục và thường quy, góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn, hạn chế bệnh nhân phải chuyển tuyến trên, giảm tải cho các bệnh viện Trung ương.

 

Về lĩnh vực Cận lâm sàng với việc đầu tư nhiều trang thiết bị y tế tân tiến, hiện đại đã nối dài bàn tay của Thầy thuốc điều trị, các kỹ thuật cận lâm sàng phát triển đáp ứng nhu cầu cho chẩn đoán và điều trị chất lượng cao như: Hệ thống máy đông máu tự động, máy phân tích huyết học tự động, hệ thống máy xét nghiệm miễn dịch điện hóa phát quang tự động, hệ thống labo trung tâm hóa sinh cao cấp Cobas 8000, xét nghiệm các marker ung thư, máy cấy máu tự động, hệ thống máy định danh vi khuẩn nhanh và kháng sinh đồ tự động, hệ thống nột soi ống mềm chẩn đoán và can thiệp điều trị, hệ thống máy siêu âm Doppler màu, siêu âm tim qua thực quản, máy chụp vú Mammography, máy chụp cắt lớp vi tính CT- Scanner và máy chụp cắt lớp đa dãy đầu dò MSCT-128 lát cắt, 02 hệ thống chụp mạch kỹ thuật số DSA, máy chụp cộng hưởng từ MRI, thiết bị chẩn đoán tế bào và tổ chức học, phát hiện sớm ung thư, máy xét nghiệm hóa mô miễn dịch, máy chụp đáy mắt võng mạc. Các khoa Hóa sinh, Vi sinh và Trung tâm Huyết học và Truyền máu được công nhận đạt tiêu chuẩn Quốc tế ISO 15189:2012.

 

Bên cạnh đó, để không ngừng nâng cao chất lượng chuyên môn, Bệnh viện đã chú trọng đẩy mạnh công tác đào tạo và đào tạo lại, cập nhật các kiến thức mới, khuyến khích, hỗ trợ học tập nâng cao trình độ, đào tạo cán bộ chuyên ngành sâu theo quy hoạch, theo nhu cầu phát triển chuyên môn, đa dạng hoá các hình thức đào tạo, chuyển giao kỹ thuật; kết hợp các hình thức đào tạo tập trung tại tuyến trung uơng, đào tạo tại chỗ theo chương trình bệnh viện vệ tinh, 1816 của Bộ Y tế và mời các Giáo sư, chuyên gia đầu ngành vào giảng dạy, phẫu thuật, chuyển giao kỹ thuật theo những chương trình riêng của Bệnh viện nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao chất lượng đội ngũ bác sĩ, kỹ thuật viên, điều dưỡng để có thể làm chủ về kỹ thuật và các trang thiết bị hiện đại.

 

Phong trào nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến được chú trọng đẩy mạnh, những năm gần đây đã có hàng trăm công trình nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị thực tiễn được cán bộ, viên chức, người lao động Bệnh viện thực hiện. Trong số đó, có 03 đề tài nghiên cứu khoa học đa quốc gia, 02 đề tài nghiên cứu khoa học cấp quốc gia, 02 đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, 08 đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh được cán bộ, viên chức Bệnh viện làm chủ đề tài hoặc cùng tam gia nghiên cứu với kết quả đánh giá, xếp loại xuất sắc và khá. Hàng năm, Bệnh viện tổ chức Hội nghị tổng kết công tác nghiên cứu khoa học và ra mắt bạn đọc cuốn kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học của Bệnh viện với hàng trăm công trình khoa học, các đề tài nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn, ghi nhận kết quả lao động khoa học và sáng tạo của cán bộ Bệnh viện trong thời kỳ đổi mới. Hàng tháng bệnh viện đã tổ chức đều đặn các buổi sinh hoạt khoa học với chất l­­ượng ngày càng cao, giúp cho cán bộ cập nhật được kiến thức mới. Tăng cường giao lưu quốc tế về khoa học và nghiên cứu khoa học, chuyển giao kỹ thuật để không ngừng nâng cao chất lượng chuyên môn.